Giảng's Blog – Lời quê

Mười năm tình cũ

Posted in Văn hóa - Nghệ thuật by ttgiang on 08/09/2010

Mười năm không gặp, tưởng tình như đã…
(Trần Quảng Nam)

1. Xin được nói rõ: entry này chẳng phải viết về tình cũ của mình; cũng không phải viết về tình cũ của một ai đó. Cách đây mười năm, mình đang ở tuổi hoa niên. Dĩ nhiên cũng có một vài mối tình. Tuổi trẻ bồng bột, gặp, nhìn, mến một ai đó. Nhưng chưa đến mức sâu đậm, khiến sau mười năm phải thầm phải tiếc nối “mười năm không gặp, tưởng tình như đã…”, rồi thở than “cả một trời yêu bao giờ trở lại…”. Lấy tựa đề này, chẳng qua là một phép câu paper views. Hì hì.

2. Mạn phép nhạc sỹ Trần Quảng Nam, được dùng tên bài hát “nổi tiếng” của ông để đặt tựa đề cho entry này. Phải nháy từ “nổi tiếng” trong ngoặc kép là có lý do hẳn hoi. Chắc rằng nhiều người Việt Nam biết bài hát này. Một lúc nào đó, ai cũng có thể bất chợt cất lên một câu “mười năm không gặp hình như em đã…”. Nhưng ít ai có đủ dũng khí để hát lên trọn vẹn, cũng ít ai thừa nhận nó nổi tiếng. Bởi một lý do đơn giản, nó vốn được cho người ta gán cái tên dân dã là “nhạc sến”. Mà sến là gì, là những gì uỷ mị, đời thường, thấp kém, và tất nhiên…không sang trọng.


3. Nếu bạn nghe ai hát: “Mười năm tình cũ”, “Đời tôi cô đơn”, “Thành phố lá bay”; Đọc tiểu thuyết Quỳnh Dao: “Bên dòng nước”, “Xóm Vắng”, “Dòng Sông Ly Biệt”; hẳn bạn sẽ cho họ là “sến quá”. Ở một cấp độ thấp hơn, nếu ai thích nghe cải lương: “Đời cô Lựu”, vào tiệm Karaoke chọn những bản tài tử mùi mẫn “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà”, “Tình anh bán chiếu”, hẳn bạn sẽ cười cười với họ, dù không nói ra là “sến quá”, nhưng có thể bạn có suy nghĩ đó, không hơn không kém. Nếu bạn nghe nhạc Hồng Kông của Tứ Đại Thiên Vương, những bản Canto Pop bi luỵ về tình yêu vốn rất phổ biến ở Châu Á và Việt Nam những năm 90 thế kỷ trước, thì bạn cũng sẽ bị có người cho là “uỷ mị quá”. Và cuối cùng, bạn lỡ có thích đọc và yêu thích Kim Dung, dù rằng cũng có rất nhiều người có sở thích giống bạn, nhưng bạn vẫn bị có người cho là “ưa thưởng thức văn chương thấp kém..”…

4. Mình đã từng được tiếp nhận những sản phẩm văn hoá trên. Đã từ hơn 20 năm nay, kể từ lúc biết nghe, biết đọc, biết viết. Cũng như mọi sản phẩm văn hoá khác, có cái mình thích, dĩ nhiên với mình là “không uỷ mị, không sến”, và thấy hay. Có những cái với mình là “uỷ mị, là sến”, và dĩ nhiên là thấy dở. Mình đọc một số bài báo, tác giả coi thường ra mặt những sản phẩm này. Sở thích của con người là thứ mà người ta không nên can thiệp vào. Người ta cũng không thể bảo “thằng này phải thích cái này, con kia phải thích cái kia..”…

5. Nhạc sến. Loại nhạc này phổ biến trước năm 1975. Nó tồn tại được, và rất phổ biến cả sau những năm 1975, dù rằng bị nhà nước cấm. Ở vùng nông thôn khắp nước Việt, bạn có thể nhặt bất kỳ một thanh niên nào, yêu cầu họ hát lên một khúc nhạc sến, hẳn bạn sẽ không nhọc công. Cũng như các dòng nhạc khác, nhạc vàng cũng có những ngôi sao của riêng nó, đó là Tuấn Vũ, Chế Linh…vv. trước năm 1975, sau năm 1975 ở Hải Ngoại vẫn những cái tên đó, lại thêm Trường Vũ, Phi Nhung…vv. Ở trong nước có ca sỹ Ngọc Sơn. Có câu, cái gì hợp lý thì tồn tại. Nhạc sến tồn tại, dĩ nhiên là hợp lý. Người ta thấy đáp ứng phần nào tâm tư tình cảm của họ, thì họ nghe, dĩ nhiên nó tồn tại, thế thôi. Mình biết nhạc Sến từ những năm 7-8 tuổi. Có hai cách tiếp cận nó. Có thể tiếp nhận một cách vô thức, nghĩa là “vô tình nghe”, hoặc là không muốn nghe nhưng “bị ép nghe”. Ví dụ như nhà bên cạnh, toàn thanh niên tuổi yêu đương, tối ngày mở nhạc này. Mình đi đường, ngồi quán xá cũng bị “ép nghe”. Thế là mình thuộc luôn những “Áo em chưa gặp một lần”, “Hoa Sứ Nhà Nàng…”. Từ sau khi bị ép nghe, mình thấy nó cũng bùi tai, cũng hay hay, thế là sau này khi lớn lên, bíêt đi mua băng, mua đĩa, biết copy, tải nhạc, mình lại tải một số bài mà ngày xưa mình đã từng bị “ép nghe”…Cũng phải công nhận là một số bản nhạc sến nghe hay thấy không có gì bi luỵ. Hồi năm 1996, mình ở gần Biên Hoà, khu công nghiệp này có nhiều công nhân từ miền Trung, Bắc vào làm việc. Ngày tết, những cô công nhân vì điều kiện không về quê được, ngồi trong phòng trọ nghe bài hát “Tết này con không về mà ôm nhau khóc. Âm nhạc mang đến những điều thật kỳ diệu.

6. Cải lương: Dĩ nhiên, loại hình văn hoá này “sang” hơn nhạc sến nhiều, vì nó vốn là văn hoá của cả miền Nam. Người ngoài Bắc nghe hát quan họ, ả đào, ca trù, người ngoài Trung có hò, có…(không biết), thì người trong Nam hát cải lương, hát ca vọng cổ. Những năm 80, cải lương rất phổ biến ở Miền Trung. Minh Vương, Lệ Thuỷ, Minh Phụng, Kim Tử Long… là những ngôi sao sáng chẳng khác gì Lý Hùng, Diễm Hương… Thời đó, TV chưa có nhiều, chỉ có một số nhà có đầu băng Video, vậy là mở những bản “Đời cô lựu”, “Gánh hàng hoa”, “Nửa chừng xuân”, bà con xem rất đông, ai cũng nghiền. Nhà nào có cái cassette, cũng mở nghe rât nhiều băng loại này. Ngày nay nhiều bạn trẻ vẫn còn mở nghe “Tình anh bán chiếu”, “Chuyến Tàu về Quê Ngoại”, “Dạ cổ hoài lang”…Một bài báo nào đó, nói là “cải lương đang chết”, có lẽ còn lâu lắm, vì mình thấy rằng, ai cũng công nhận nó sến, nhưng vẫn rất thích nghe, và cải lương còn nhiều người hâm mộ lắm. Hồi đầu năm nay, mình có đi nghe ông Trần Văn Khê kể chuyện lịch sử ca vọng cổ, thấy rất hấp dẫn. Và để trở thành cải lương nhịp 24 (hình như mình nhớ không lầm) như ngày nay, phải qua một quá trình phát triển lịch sử gần trăm năm nay. Nếu bạn đi du lịch về miền Tây, có đi chợ nổi Phùng Hiệp, hoặc du ngoạn trên những con sông, kinh rạch, ngồi trên con thuyền lênh đênh, văng vẵng nghe đâu đó một câu vọng cổ “Hò ơi, chiếu cà mau…”…lòng tự nhiên bỗng ấm lại…

7. Đã ở Việt Nam vào những năm 80,90 rất nhiều người trong chúng ta đã xem một bộ phim tình cảm Đài Loan – Hồng Kông, vốn đầy ở các tiệm cho thuê băng thời đó. Những câu chuyện tình đẫm nước mắt của bà Quỳnh Dao (văn sỹ nổi tiếng của Đài Loan) chuyển thể thành phim, lấy không biêt bao nước mắt của nhiều thế hệ khán giả…bình dân. Chẳng cần biết nó ý nghĩa ra sao, tư tưởng thế nào, chỉ cảm thấy thích, và ích ra cũng rút ra một cái gì trong đó. Ông cha ta có nói “không bổ ngang, thì cũng bổ dọc…” đó sao. Nhiều người vẫn nhớ hình ảnh lãng mạn kinh điển mùa thu lá bay nơi xứ Đài xa xôi trong bộ phim “Mùa Thu Lá Bay”…

8. Truyện – phim Kiếm hiệp Kim Dung thì khỏi nói. Nó quá nổi tiếng rồi. Hiếm tìm thấy ai ở Việt Nam mà không coi một bộ phim nào của Kim Dung, hay đọc tác phẩm của ông. Những câu chuyện tình thù trong giang hồ, những hình mẫu anh hùng, đã cuốn hút mọi đọc giả không chỉ ở Việt Nam và khắp Châu Á. Ảnh hưởng của những tác phẩm này rộng khắp, chẳng thế mà ở Châu Á có nhiều hội “Kim Dung học”, cũng không thua kém với hội “Hồng học”, “Lỗ Tấn học..” kinh điển bao nhiêu… Cô gái nào cũng muốn người yêu mình chung thủy như Dương Qua; hiền lành chất phác như Quách Tĩnh; thông minh, thoáng đãng như Trương Vô Kỵ; chính nghĩa đường đường như Kiều Phong, lãng tử như Lệnh Hồ Sung; hết lòng phụng hiến Tình yêu..như Đoàn Dự….

9. Một lúc nào đó, bạn buồn, muốn tìm một câu hát, một hình ảnh nào, diễn tả tâm trạng của mình. Nhiều người chọn câu hát Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Thanh Tùng. Nhiều người chọn những câu hát mà Tuấn Vũ, Chế Linh đã hát. Một lúc nào đó bạn thấy chông chênh, muốn tìm một hình mẫu để xốc lại tinh thần; Sẽ có nhiều bạn chọn Pavel Corsagin; lại sẽ có bạn chọn Quách Tỉnh hay Kiều Phong…

Và biết đâu một lúc nào đó, bạn sẽ phải thốt lên trong sự nối tiếc triền miên… “cả một trời yêu bao giờ trở lại…”

Tagged with:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: